ĐH Nông Lâm | Trang chính | Sơ đồ trang |
Thống kê
Số lần xem:
Đang xem
Toàn hệ thống:
Trong vòng 1 giờ qua
Trang liên kết

Trung Tâm Tin Học

Nội dung

  ĐẶC ĐIỂM GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU THỊ TRƯỜNG

Giáo dục được xác định là một dịch vụ (service), không phải là một hàng hóa (goods). ..

ĐẶC ĐIỂM GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU THỊ TRƯỜNG

 

TS Nguyễn Văn Ngãi

Trưởng khoa Kinh tế Đại học Nông Lâm Tp.HCM

 

Cải cách giáo dục đại học nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường là một vấn đề thường xuyên ở các trường đại học không chỉ ở Việt Nam mà tất cả các trường đại học trên thế giới. Trong phạm vi bài viết này, lý luận căn bản về thị trường giáo dục, những thất bại của thị trường giáo dục và vai trò của nhà nước để hạn chế những thất bại của thị trường giáo dục được thảo luận nhằm cung cấp nền tảng lý luận cho việc thực hiện giáo dục theo nhu cầu được đề xuất trong phần cuối của bài viết này.

 

1. Đặc điểm của thị trường giáo dục

 

1.1 Dịch vụ giáo dục và thị trường giáo dục

 

Giáo dục được xác định là một dịch vụ (service), không phải là một hàng hóa (goods). Dịch vụ vì sản phẩm của giáo dục là kiến thức và kỹ năng, mà kiến thức và kỹ năng thì không sờ mó (intangible) được.

 

Trong việc phân loại hàng hóa và dịch vụ, giáo dục được xác định như là một “dịch vụ tư” (private service) vì dịch vụ này bao hàm hai đặc điểm, có tính loại trừ  (excludability) và có tính cạnh tranh (rivalness) trong sử dụng. Có tính loại trừ trong sử dụng vì sinh viên không thể tham gia hưởng thụ dịch vụ đó mà không có điều kiện, họ phải thi đầu vào, phải đóng học phí, vv. Nếu sinh viên không thỏa mãn những điều kiện đó sẽ bị lọai trừ ra khỏi việc hửơng thụ dịch vụ giáo dục. Dịch vụ giáo dục có tính cạnh tranh trong sử dụng vì việc học của một sinh viên này sẽ ảnh hưởng đến việc học của người khác. Vì số lượng sinh viên trong một lớp học là hạn chế  và số lượng lớp học trong một trường cũng bị hạn chế, nên sinh viên này được học thì một người khác không được học, hay là nếu thêm một sinh viên vào một  lớp học quá đông sẽ ảnh hửơng đến việc học của các sinh viên khác.

 

Tương tự hàng hoá và dịch vụ khác, thị trường dịch vụ giáo dục, nói tắt là thị trường giáo dục,  có hai khía cạnh, cung và cầu. Trong một lý thuyết căn bản của kinh tế học, quy luật cầu muốn nói rằng cầu và giá có quan hệ nghịch biến, tức là đường cầu dốc xuống. Nếu giá càng cao thì cầu càng thấp và ngược lại. Khi chi phí cho việc học tăng lên thì số người đi học sẽ giảm. Hơn nữa, quy luật cung thì ngược lại, cung và gía có quan hệ đồng biến, đường cung dốc lên, nếu học phí thu được từ sinh viên càng cao thì số số lượng sinh viên mà nhà trường nhận đào tạo càng cao. Ngược lại, nếu sinh viên học phí càng thấp thì số lượng sinh viên nhà trường nhận đào tạo sẽ giảm.

 

1.2 Một số thất bại của thị trường  (Market failures) giáo dục

 

Thị trường giáo dục tồn tại một số thất bại như: Thông tin không hoàn hảo,  tính cạnh tranh không cao, hàng hoá không đồng nhất, hạn chế trong lựa chọn của người đi học, người mua trả tiền trước, ngoại tác tích cực trong giáo dục, và khó khăn trong tiếp cận giáo dục của người nghèo

 

Thông tin không hoàn hảo

 

Thông tin không hoàn hảo được thể hiện ở thị trường giáo dục là sự bất cân xứng thông tin. Nhà trường (người cung ứng dịch vụ) biết được chất lượng dịch vụ của mình nhiều hơn người đi học (người mua dịch dịch vụ). Người mua dịch vụ chỉ biết đựợc chất lượng giáo dục sau khi học xong. Nhưng sau khi học xong không thể đổi hoặc trả lại nếu phát hiện chất lượng đào tạo kém.

 

Tính cạnh tranh trong thị trường giáo dục không cao

 

Nếu xét theo cấu trúc thị trường thì thị trường giáo dục mang đặc điểm của một thị trường độc quyền nhóm (oligopoly) vì cùng một cấp học ở bậc phổ thông hay cùng một ngành học ở bậc đại học chỉ có một vài trường cung ứng. Ví dụ, học sinh bậc phổ thông phải chọn những trường ở gần nhà. Sinh viên ở phía Nam muốn học ngành nông học chỉ có học ở Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Cần Thơ hay Đại học Tây Nguyên.  Như vậy, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo sẽ dẫn đến không hiệu quả cao cho xã hội, các trường chủ quan, không đầu tư nhiều trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao chất lượng dịch vụ và cạnh tranh về học phí.

 

Chất lượng dịch vụ không đồng nhất

 

Không giống như hàng hóa và dịch vụ khác, chất lượng của trường học và thầy giáo trong mỗi trường học là khong đồng nhất, nhiều trường đại học đào tạo chung một ngành đào tạo nhưng chất lượng giữa các trường thì rất khác nhau. Trong cùng một trường đại học, chất lựơng của giảng viên cũng rất khác nhau. Do đó, việc lựa chọn của sinh viên gặp nhiều khó khăn. 

 

Người mua trả tiền trước và không bảo đảm về chất lượng

 

Sinh viên phải đóng tiền trước khi học và thi. Việc thi đậu hay rớt, có việc làm hay không có việc làm của sinh viên sau này, nhà trường không bảo đảm. Do đó, việc kinh doanh giáo dục rủi ro thấp, nhưng người đi học thì rủi ro cao hơn.

 

Ngoại tác tích cực trong giáo dục

 

Lợi ích tư  nhân  của việc học luôn nhỏ hơn lợi ích xã hội do tồn tại lợi ích ngoại tác của việc đi học. HO

 Lợi ích tư nhân là lơi ích của bản thân sinh viên sau khi học, sau khi học  có được kiến thức và kỹ năng làm việc, sẽ tìm được việc làm tốt hơn và có thu nhập cao hơn, không chỉ một hai năm mà lợi ích cho cả cuộc đời còn lại. Do đo, cá nhân người đi học phải đầu tư. Tuy nhiên, lợi ích xã hội của giáo dục là rất lớn, nó bao gồm lợi ích tư nhân như nói trên và lợi ích ngoại tác. Lợi ích ngoại tác có nghĩa là người đi học đem lợi ích cho người khác và xã hội. Việc học sẽ giảm bớt tệ nan xãhội, dễ dàng hơn cho nhà nước trong việc phổ biến và thực hiện các chính sách kinh tế văn hóa và xã hội. Hơn nữa, các doanh nghiệp và cơ quan tuyển dụng cũng có lợi nhuận trong viêc học của các cá nhân. Sinh viên học xong sẽ có lợi ích trong việc học, sẽ làm việc cho các doanh nghiệp chẳng hạn, doanh nghiệp phải trả lương cho sinh viên tốt nghiệp, nhưng mức lương bao giờ cũng thấp hơn năng suất lao động mà sinh viên đem lại cho doanh nghiệp, sự chênh lệch đó là lợi nhuận mà doanh nghiệp có được do việc học của sinh viên. Như vậy, tồn tại lợi ích ngoại tác mà người đi học không nhận được, nên người đi học không đầu từ đúng mức cho việc đi học vì họ quyết định đầu tư cho việc học phụ thuộc vào sự so sánh giữa chi phí tư nhân và lợi ích tư nhân thay vì lợi ích xã hội, họ không quan tâm đến lợi ích xã hội.

 

Người có thu nhập thâp không có khả năng tiếp cận giáo dục

 

Vì chi phí cho việc học khá cao và đầu tư cho việc học là đầu tư lâu dài, thời gian học đại học trung bình là 4 năm, trong thời gian đi học chỉ có chi không có thu, do đó  những gia đình có thu nhập thấp gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục nếu tất cả các trường học theo cơ chế thị trường, học phí bù đắp đầy đủ chi phí giáo dục của trường. Việc hỗ trợ cho người nghèo đi học là rất cần thiết.

 

2. Vai trò của nhà nước trong thị trường giáo dục

 

Nếu thị trường hoàn hảo thì cơ chế thị trường sẽ mang lại hiệu quả nhất, tuy nhiên thị trường giáo dục không hoàn hảo, tồn tại những sự thất bại như trình bày ở trên, vai trò của nha nước can thiệp vào thị trường giáo dục là cần thiềt nhằm hạn chế những thất bại trên của thị trường.

 

Đối với vấn đề thông tin không cân xứng, nhà nước cần có những quy định cho nhà trường cung cấp những thông tin bắt buộc cho người đi học. Ví dụ, số lượng và chất lượng giảng viên, điều kiện học tập của sinh viên và klhả năng tìm được việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

 

Đối vấn đề cạnh tranh không hoàn hảo, nhà nước cần thiết có chế để tăng tính cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ giáo dục. Để làm được việc này, cho phép các trường tự do mở các ngành khác nhau để cạnh tranh lẫn nhau, mở cửa cho các trường đại học quốc tế vào Việt Nam để thúc đẫy sự cạnh tranh của các trường đại học trong nước. Nâng cao tính cạnh tranh đó có thể một số trường sẽ thất bại trong cạnh tranh nếu họ không đủ năng lực.

 

Vì tồn tại lơi ích ngoại tác nên doanh nghiệp và nhà nước cần phải đầu tư cho giáo dục, không thể để 100% chi phí cho người đi học phải gánh chịu. Phương thức đóng góp của nhà nước và doanh nghiệp làm thế nào cho đơn giản. Thực chất doanh nghiệp không cần thiết phải đóng góp trực tiếp cho giáo dục, mà doanh nghiệp đóng góp qua việc đóng thuế vào ngân sách nhà nước và như vậy nhà nước phải đầu tư lại cho giáo dục. Không phải chờ đợi vào việc đóng góp trực tiếp của các doanh nghiệp. Hơn nữa, vì người nghèo không có khả năng tham gia việc học theo cơ chế thị trường, nhà nước cần phát triển thị trường vốn để cho sinh viên vay vốn hoặc có các học bổng cho các sinh viên nghèo học giỏi.

 

3. Vai trò của nhà trường trong việc đáp ứng nhu cầu thị trường giáo dục

 

Sinh viên đi học là đầu tư vốn con người (human capital) để thu được kiến thức và kỹ năng nhằm tìm được việc làm trong tương lai với năng suất lao động cao và thu nhập cao. Như vậy, nhu cầu học của sinh viên xuất phát từ nhu cầu về kiến thức và kỹ năng của thị trường lao động. Việc đào tạo theo nhu cầu thị trường thực chất là đào tạo theo nhu cầu của sinh viên với giả định rằng sinh viên là người đã nhận biết được nhu cầu của thị trường lao động. Do đó, nhà trường chỉ cần đáp ứng nhu cầu của sinh viên là đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Để đáp ứng nhu cầu của sinh viên, nhà trướng cần tập trung vào các vấn đề sau đây.

 

Trước hết cần phải xác định nhà trường là người cung ứng dịch vụ giáo dục và sinh viên là người có nhu cầu  về dịch vụ giáo dục. Do đó thị trường này tồn tại nếu tồn tại cả cung và cầu. Sinh viên phải được xem và đối xử như là khách hàng. Nếu không có sinh viên thì sẽ không có nhà trường.

 

Về việc xác định ngành học theo nhu cầu của sinh viên, thông qua số lượng thí sinh dự thi và điểm trúng tuyển. Nếu ngành nào có số lượng thí sinh nhiều và điểm trúng tuyển cao, đó là ngành xã hội có nhu cầu cao. Do đó, để đáp ứng nhanh và kịp thời nhu cầu thị trường, nhà trường cần có quyền quyết định trong việc lựa chọn ngành đào tạo. Tuy nhiên cũng cần chú ý, vì việc đào tạo đại học phải mất 4 năm, nên có thể xãy ra tình trạng sinh viên chọn ngành học theo nhu cầu thị trường lao động hiện tại mà không dự báo được trong 4 năm sau, điều này có thể xãy ra trình trạng dư  cung trong 4 năm sau nếu nhiều sinh viên đổ xô vào học một ngành mà đang có nhu cầu cao ngày hôm nay.

 

Về chương trình học, vì xác định nhu cầu học của sinh viên là để có kiến thức và kỹ năng lao động để làm việc cho các doanh nghiệp và cơ quan. Tuy nhiên, kiến thức và kỹ năng này sinh viên đang học hoặc chưa học khó có thể biết được nhu cầu của nhà tuyển dụng. Như vậy nhà trường phải đầu tư để khảo sát nhu cầu về kiến thức và kỹ năng mà doanh nghiệp cần, từ đó xây dựng chương trình nhằm đáp ứng nhu cầu đó.

 

Việc  chuyển đổi ngành của sinh viên từ ngành đang học sang ngành khác cần phải linh động hơn. Trong quá trình học nếu sinh viên phát hiện ngành học mình đang theo học không phù hợp với sở trường hoặc năng khiếu của mình, hay sinh viên phát hiện nhu cầu thị trường lao động thay đổi, nhà trường cần xem xét cho sinh viên chuyển ngành một cách đễ dàng hơn, nhưng việc chuyển đổi môn học phải được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo chất lượng sau khi chuyển ngành.

 

Về việc giảng dạy, cần thiết phải giảng dạy theo nhu cầu của sinh viên, đảm bảo cho sinh viên tiếp thu được cao nhất từ kiến thức của giảng viên và trí tuệ của nhân loại. Trí tuệ của nhân loại được chứa đựng trong các tài liệu. Sinh viên được quyền nhất định trong việc lựa chọn giáo viên giảng dạy, như vậy mỗi môn học cần có nhiều giáo viên giảng dạy song song để sinh viên có thể lựa chọn. Nếu một giảng viên qua nhiều học kỳ số lượng sinh viên lựa chọn  ít, nhà trường cần thiết phải xem lại chất lượng giảng dạy của giảng viên đó.

 

Về các dịch vụ khác như: tài liệu tham khảo,  chổ ở, vui chơi và giải trí trong trường, nhà trường cần tổ chức cung ứng theo cơ chế thị trường hoàn toàn. Sinh viên có nhu cầu các dịch vu đó sẽ được đáp ứng nhưng phải chi trả theo giá thị trường. 

 

Những nhu cầu khác của sinh viên như cung cấp bảng điểm, các loại giấy chứng nhận liên quan đến sinh viên cần phải đáp ứng kịp thời và chính xác cho sinh viên, phải xem đây là nhiệm vụ của nhà trường trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, không cần phải thu phí. Tuy nhiên, nếu sinh viên lạm dụng cung ứng miễn phí xin quá nhiều một cách không cần thiết, có thể hạn chế bằng cách thu một khoản thu nhất định, nhưng mục đích thu không phải là để trang trãi chi phí./.

 

Số lần xem trang : :4019
Nhập ngày : 20-03-2008
Điều chỉnh lần cuối :


In trang này

Lên đầu trang

  Những tham luận xoay quanh Đào tạo theo nhu cầu XH

  Đào tạo nhân lực & nhu cầu xã hội(10-04-2008)

  ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐẦU RA GẮN VỚI ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU XÃ HỘI(25-03-2008)

  Đào tạo theo nhu cầu xã hội của các ngành Cơ khí- Công nghệ(25-03-2008)

  NGHIÊN CỨU & CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ THEO NHU CẦU XÃ HỘI(25-03-2008)

  SỰ KẾT HỢP GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CÔNG TY, XÍ NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO(25-03-2008)

  HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐịA LÝ (GIS) VÀ CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM (RS) THẾ KỶ XXI(25-03-2008)

  KHOA CNTT ĐH NÔNG LÂM ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU XÃ HỘI(20-03-2008)

  GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG CHUYÊN NGÀNH Ở VIỆT NAM(20-03-2008)

  KHOA CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG CẢI TIẾN CHƯƠNG TRÌNH (20-03-2008)

  QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y, ĐẠI HỌC NÔNG LÂM (20-03-2008)

Trang kế tiếp ... Trang:

Trung Tâm Hỗ Trợ Sinh Viên & Quan Hệ Doanh Nghiệp
ĐC: Phòng 119 Nhà Phượng Vỹ - ĐH Nông Lâm TP.HCM
ĐT/Fax: 08-8974560 - Email: tthtsv_qhdn(a)hcmuaf.edu.vn
Website:http://www.nls.hcmuaf.edu.vn

Thiết kế: Quản trị mạng- ĐHNL 2007-2011