ĐH Nông Lâm | Trang chính | Sơ đồ trang |
Thống kê
Số lần xem:
Đang xem
Toàn hệ thống:
Trong vòng 1 giờ qua
Trang liên kết

Trung Tâm Tin Học

Nội dung

  QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y, ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Khoa Chăn Nuôi Thú Y (CNTY) ra đời từ những ngày đầu thành lập Trường Đại học Nông Lâm (1955)...

                       

                                   

 

QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y, ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VỚI CÁC DOANH NGHIỆP, CƠ SỞ CHĂN NUÔI THÚ Y

 

TS. Dương Duy Đồng

Trưởng khoa Chăn nuôi Thú y

 

Giới thiệu

            Khoa Chăn Nuôi Thú Y (CNTY) ra đời từ những ngày đầu thành lập Trường Đại học Nông Lâm (1955). Với lịch sử lâu dài của quá trình hình thành và phát triển, cùng với số lượng đào tạo đông và những đóng góp cho sự phát triển của ngành chăn nuôi, thú y của cả nước nên đến nay mối quan hệ giữa Khoa và các doanh nghiệp, cơ sở kinh tế liên quan đến chăn nuôi thú y trong cả nước được phát triển và duy trì ở mức độ rất chặt chẽ và tích cực, theo hướng có lợi cho các bên tham dự trong mối quan hệ này. Dưới đây là phần liệt kê và phân tích các nguyên nhân đưa đến những mối quan hệ hợp tác tốt đẹp đó.

Đào tạo

            Trước những năm 90 của thế kỷ trước, ngành Chăn nuôi chưa phát triển nhiều, mỗi năm Khoa chỉ đào tạo khoảng 100 sinh viên cho cả hai ngành là Chăn Nuôi và Thú Y thuộc hệ đào tạo Chính quy tập trung cùng với rất ít sinh viên của hệ Vừa học Vừa làm được đào tạo. Từ những năm 90 trở lại đây do nhu cầu xã hội phát triển nên ngành chăn nuôi, thú y cũng không ngừng phát triển. Để đáp ứng nhu cầu đó, Khoa cũng đã tăng dần con số sinh viên đào tạo của cả hai hệ. Với hệ chính quy thì từ 02 lớp khoảng 100 sinh viên đến nay Khoa đã tăng lên 04 lớp cho 04 chuyên ngành với 300 sinh viên nhập học mỗi năm. Hệ Vừa học Vừa làm khi cao điểm đã tiếp nhận một năm 08 lớp với trên 500 sinh viên nhập học. Quá trình sàng lọc chặt chẽ của Khoa đã cho ra trường mỗi năm khoảng 600 Kỹ sư Chăn Nuôi và Bác sĩ Thú y để phục vụ cho nhu cầu của hầu hết các tỉnh phía Nam và miền Trung. Tỷ lệ sàng lọc cao trên số lượng đầu vào lớn đã giúp Khoa cung cấp được cho xã hội số lượng lớn các lao động có trình độ khoa học kỹ thuật cao, được các đơn vị tuyển dụng thừa nhận và ưu tiên tuyển dụng.

Nghiên cứu, chuyển giao khoa học kỹ thuật

            Ngay từ những năm 80, sự chỉ đạo đúng đắn của nhiều Thầy Cô đầu đàn trong Khoa đã đưa Khoa CNTY phát triển mạnh về nghiên cứu chuyên môn phục vụ sản xuất. Các công trình nghiên cứu hầu hết được cụ thể hóa gắn với nhu cầu xã hội trong từng giai đoạn. Trong những năm gần đây, nhiều công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam đem theo phương tiện và tri thức hữu ích cho ngành. Các giáo viên của Khoa cũng không đứng ngoài cuộc mà cùng tham gia tiếp nhận, tìm hiểu và chuyển hóa thành những nội dung cụ thể, thiết thực và tiếp tục chuyển giao đến người chăn nuôi. Quá trình này tạo ra và củng cố mối quan hệ ba bên bền chặt. Một bên là các công ty sản xuất, cung cấp con giống, thức ăn, vật tư, thuốc thú y; một bên là những nhà chăn nuôi và các công ty sản xuất tiêu thụ nguồn cung ứng của các công ty cung cấp. Ở giữa hai bên chính là các giáo viên của Khoa với vốn ngoại ngữ, trình độ khoa học sẵn có cộng thêm sự nhanh nhạy về thị trường đã tích cực làm cầu nối giúp cho các lực lượng sản xuất gặp nhau và tạo ra các quan hệ tốt đẹp cho nhiều bên.

            Trong lãnh vực nghiên cứu, một thuận lợi của Khoa CNTY chính là số lượng sinh viên đông đảo đã cùng tham gia công tác nghiên cứu thông qua các hoạt động nghiên cứu ngoại khóa hoặc thực tập tốt nghiệp. Cho đến nay hầu hết các sinh viên thuộc Khoa CNTY khi đi thực tập tốt nghiệp đều không phải lo lắng đến các chi phí cho thí nghiệm vốn có thể từ vài chục triệu đến hàng trăm triệu đồng. Các chi phí này đều được giáo viên của Khoa sắp xếp từ những đề tài nghiên cứu của nhà nước và phần lớn từ những đề tài nghiên cứu theo yêu cầu của các đơn vị sản xuất, cung cấp sản phẩm trong ngành chăn nuôi thú y.

            Trong khi tham gia nghiên cứu, nhiều sinh viên còn được nhận bồi dưỡng lao động cũng từ các đề tài nghiên cứu này hoặc từ các nhà quản lý doanh nghiệp, trang trại. Ngoài ra quá trình thực tập cũng chính là thời gian để cơ sở sản xuất tìm hiểu đánh giá sinh viên và sau đó nhiều sinh viên đã được nhận về làm việc tại cơ sở chính nhờ đợt thực tập này hoặc thông qua giới thiệu, bảo đảm của các giáo viên hướng dẫn.

            Nhiều cơ sở sản xuất đã rất có thiện ý và nhiệt tình trong việc hỗ trợ công tác đào tạo của Khoa. Một thí dụ như công ty Cargill VN, trong năm 2007 đã tài trợ xây dựng cho Khoa một phòng học và một dãy chuồng heo thí nghiệm trị giá 40.000 USD không kèm theo những ràng buộc thương mại nào mà chỉ với một mục đích là “giúp Khoa có thêm điều kiện giảng dạy và sinh viên có điều kiện thực tập tốt hơn”.

            Mối quan hệ hợp tác giữa Khoa với các cơ sở sản xuất còn tạo thêm điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong việc nắm bắt thực tế, cập nhật kiến thức, giúp cho bài giảng không xa rời thực tế. Ngược lại, nhà chăn nuôi, các công ty sản xuất cũng có được từ phía Khoa các góp ý chuyên môn, các thông tin cần thiết về thị trường sản xuất, thị trường lao động để có kế hoạch sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn. Nhiều giáo viên đã tích cực tham gia trong việc tạo ra mối quan hệ tốt đẹp kể trên, kể cả bằng cách làm việc bán thời gian với tư cách là cố vấn chuyên môn cho một vài đơn vị. Hiện tại Khoa có 17 Tiến sĩ và 29 Thạc sĩ, đủ sức tham gia vào nhiều lãnh vực trong ngành Chăn nuôi Thú y.

            Tuy nhiên, việc đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu chuyển giao khoa học kỹ thuật từ phía Khoa đến các đơn vị sản xuất, kinh doanh vẫn còn một vài trở ngại như:

            - Một số giáo viên còn tự ti hoặc thật sự chưa đủ trình độ hay uy tín khoa học để tham gia vào thị trường. Một vài giáo viên khác cũng chưa cảm thấy thích thú trong việc thực hiện các nghiên cứu, đề tài ngắn hạn ít mang tính học thuật cao. Một vài giáo viên thật sự bận rộn với khối lượng giờ giảng quá cao ở nhà trường.

            - Về chính sách, có giáo viên tuy tham gia nhiều với các đơn vị sản xuất, thương mại nhưng rất ngại công khai những mối quan hệ này. Lý do là chưa có chủ trương chính thức cho phép giáo viên hợp tác với cơ sở sản xuất có hưởng thù lao, hoặc giáo viên e ngại phần thù lao này sẽ bị khấu trừ vào quỹ chung (kể cả vấn đề thuế thu nhập cá nhân hiện nay), và nói chung tâm lý chung của thời gian vài chục năm trước đây vẫn làm mọi người ngại ngùng không muốn cho biết về các mối quan hệ với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

            - Về phía doanh nghiệp, ngoài một số đơn vị rất chính quy trong việc chọn lựa và xây dựng điều kiện hợp tác cùng có lợi thì một số đơn vị chưa có thói quen công nhận một cách cụ thể giá trị của công tác tư vấn hoặc nghiên cứu khoa học phục vụ cho đơn vị mình. Chưa kể tâm lý e dè, sợ bị tiết lộ thông tin “mật” của đơn vị ra ngoài, đã làm nhiều cơ sở, nhất là các trại chăn nuôi không muốn tiếp nhận giáo viên và nhất là sinh viên của Khoa đến thực tập, nghiên cứu.

Tài chính

            Trong vài năm trở lại đây, Khoa CNTY cũng thường được tiếp nhận các nguồn hỗ trợ tài chính từ các đơn vị có mối quan hệ với Khoa. Các nguồn này có khi là có kế hoạch trước thí dụ như từ công ty ANCO, Cargill, Minh Dũng, Bayer VN nhưng cũng có khi tùy theo tình hình kinh doanh của công ty hoặc theo mối quan hệ thân tình giữa các công ty với một vài thành viên của Khoa. Một điều đáng quí là đại đa số các nguồn cung cấp kinh phí làm học bổng cho sinh viên đều không kèm theo những điều khoản bắt buộc nào có lợi cho nhà tài trợ nên Khoa và sinh viên đều cảm thấy thoải mái khi nhận những tài trợ này và thật sự càng làm cho mối quan hệ này tốt đẹp hơn.

            Một trở ngại trong việc cung cấp học bổng từ các nhà tài trợ là thường được cung cấp vào những thời gian không định trước. Điều này làm cho có những sinh viên đạt được tiêu chuẩn xét chọn (thí dụ học giỏi, gia đình nông thôn) có khi được nhận 2-3 học bổng khác nhau, lấy bớt đi phần của các sinh viên khác trong khi điểm trung bình có lúc chỉ chênh nhau 0,1 điểm.

Hiện tại Khoa đang cố gắng thông báo đến các nhà tài trợ thường xuyên với Khoa và sinh viên kế hoạch xét duyệt vào đầu năm học một danh sách sinh viên theo hai tiêu chí kết quả học tập và điều kiện kinh tế gia đình để có danh sách sinh viên theo thứ tự ưu tiên chờ và sau đó trong năm khi có các nguồn học bổng khác nhau cung cấp sẽ được phân bổ đến sinh viên theo thứ tự này.

Các mối quan hệ khác

            Tùy vào yêu cầu cụ thể của từng thời gian, đơn vị, Khoa CNTY cũng đã rất cố gắng đáp ứng để tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa Khoa và các đơn vị liên quan. Những thông tin về thời gian tốt nghiệp, số lượng sinh viên ra trường cũng như tính chất của một số sinh viên nổi bật đều được cung cấp để doanh nghiệp có hướng tuyển dụng. Khoa cũng thường thực hiện luôn công việc thông báo tuyển dụng, nhận hồ sơ, cung cấp phòng làm việc để doanh nghiệp phỏng vấn và tuyển dụng sinh viên ngay tại Khoa, giảm được thời gian của cả doanh nghiệp lẫn sinh viên.

Kết luận

            Có thể nhìn nhận quan hệ giữa Khoa CNTY với các đơn vị sản xuất, kinh doanh trong lãnh vực chăn nuôi thú y thời gian qua là rất tốt đẹp và vẫn đang tiếp tục tốt đẹp. Có được kết quả này chính là nhờ ý thức của cả hai phía dựa trên những liên quan vừa công việc vừa cá nhân đã hết sức vun đắp cho mối quan hệ này.

            Các chính sách thích hợp và/hoặc sự tác động phù hợp của nhà trường sẽ là động lực thúc đẩy các quan hệ tốt đẹp này phát triển ở mức độ cao hơn, tốt đẹp hơn nữa./.

 

Số lần xem trang : :3540
Nhập ngày : 20-03-2008
Điều chỉnh lần cuối :


In trang này

Lên đầu trang

  Những tham luận xoay quanh Đào tạo theo nhu cầu XH

  Đào tạo nhân lực & nhu cầu xã hội(10-04-2008)

  ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐẦU RA GẮN VỚI ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU XÃ HỘI(25-03-2008)

  Đào tạo theo nhu cầu xã hội của các ngành Cơ khí- Công nghệ(25-03-2008)

  NGHIÊN CỨU & CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ THEO NHU CẦU XÃ HỘI(25-03-2008)

  SỰ KẾT HỢP GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CÔNG TY, XÍ NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO(25-03-2008)

  HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐịA LÝ (GIS) VÀ CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM (RS) THẾ KỶ XXI(25-03-2008)

  KHOA CNTT ĐH NÔNG LÂM ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU XÃ HỘI(20-03-2008)

  GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG CHUYÊN NGÀNH Ở VIỆT NAM(20-03-2008)

  KHOA CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG CẢI TIẾN CHƯƠNG TRÌNH (20-03-2008)

  ĐẶC ĐIỂM GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU THỊ TRƯỜNG(20-03-2008)

Trang kế tiếp ... Trang:

Trung Tâm Hỗ Trợ Sinh Viên & Quan Hệ Doanh Nghiệp
ĐC: Phòng 119 Nhà Phượng Vỹ - ĐH Nông Lâm TP.HCM
ĐT/Fax: 08-8974560 - Email: tthtsv_qhdn(a)hcmuaf.edu.vn
Website:http://www.nls.hcmuaf.edu.vn

Thiết kế: Quản trị mạng- ĐHNL 2007-2011