ĐH Nông Lâm | Trang chính | Sơ đồ trang |
Thống kê
Số lần xem:
Đang xem 21
Toàn hệ thống: 2125
Trong vòng 1 giờ qua
Trang liên kết

Trung Tâm Tin Học

Nội dung

  Đào tạo theo nhu cầu xã hội của các ngành Cơ khí- Công nghệ

Đào tạo theo nhu cầu xã hội của các ngành

Lĩnh vực Cơ khí – Công nghệ

PGS.TS. Trần Thị Thanh

TS. Nguyễn Như Nam

           

 

            Đào tạo theo nhu cầu xã hội là yêu cầu cấp thiết đối với giáo dục chuyên nghiệp ở nước ta hiện nay. Khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì điều này có ý nghĩa sống còn đối với ngành giaó dục chuyên nghiệp. Yêu cầu này thể hiện ở các nội dung đào tạo như chương trình, phương pháp, kết quả đào tạo. Bài tham luận xin đi vào các khía cạnh sau:

            + Đối tượng sản xuất;

            + Đặc điểm các ngành đào tạo thuộc lĩnh vực cơ khí – công nghệ trong trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.

            +  Những nội dung để đảm bảo đào tạo theo yêu cầu xã hội.

  1. Đặc điểm và các yêu cầu của sản xuất thuộc lĩnh vực cơ khí – công nghệ đối với đào tạo

Sản xuất là đối tượng phục vụ của các ngành giáo dục chuyên nghiệp. Tìm hiểu đặc điểm của sản xuất chính là tìm hiểu đối tượng phục vụ, để có khả năng phục vụ sản xuất tốt nhất, cao nhất.

Đối tượng sản xuất có liên quan đến các ngành nghề thuộc lĩnh vực cơ khí – công nghệ rất đa dạng và phong phú. Bao gồm tất cả các loại hình xí nghiệp công nông nghiệp, ở mọi qui mô, thành phần kinh tế, từ nông thôn đến thành thị, hay hình thức sản xuất, kể cả sản xuất, thương mại, dịch vụ. Điều đó có nghĩa là ở bất cứ đâu có sự hiện diện của máy móc, thiết bị đều thuộc đối tượng mà các ngành đào tạo của khoa cơ khí – công nghệ phục vụ. Vì vậy không khỏi ngạc nhiên khi thấy sinh viên ngành cơ khí – công nghệ trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh có mặt trên các Giàn khoan dầu, trên tàu Viễn Dương, hay trên đồng ruộng. Chúng ta có thể gặp những kỹ sư, thạc sỹ do khoa Cơ khí – Công nghệ đào tạo đang là các nhà chính trị, chủ doanh nghiệp hay những người lao động trực tiếp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với các chức danh như kỹ sư, quản đốc,…Tuy nhiên phần đông vẫn là tham gia trực tiếp vào các công việc sản xuất.

Đặc điểm sản xuất ở nước ta hiện nay có thể thấy như sau:

            + Về thành phần kinh tế: Gồm đầy đủ các thành phần kinh tế đã được trình bày trong các Nghị quyết của Đảng. Từ thành phần kinh tế Quốc doanh (Nhà nước) hiện đang tiến hành cổ phần hoá (ngoại trừ một số doanh nghiệp theo qui định), hay doanh nghiệp có 100 % vốn đầu tư của nước ngoài, đến các thành phần kinh tế tư nhân.

            + Về qui mô: Có thể thấy đa số các doanh nghiệp trong nước thuộc qui mô vừa và nhỏ. Hầu hết có vốn điều lệ thấp, không quá 1 tỉ đồng. Ngoại trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài, doanh thu bình quân đầu người ở các lĩnh vực sản xuất cơ khí, chế biến thực phẩm thường dưới 200 triệu đồng/ năm.

            + Trình độ sản xuất: Các số liệu điều tra thống kê cho thấy hầu hết các máy móc trang bị sản xuất của các ngành kỹ thuật cơ khí thuộc các doanh nghiệp trong nước là lạc hậu. Tính theo thời gian, thiết bị sản xuất cơ khí của trong nước cách xa so với các nước tiên tiến trên thế giới trên dưới 50 năm. Tổ chức sản xuất còn yếu kém về mặt quản lý, nhân sự. Số các xí nghiệp sử dụng các phần mềm tin học trong việc điều hành, giải các bài toán kỹ thuật còn rất ít, kể cả thực hiện vẽ thiết kế trên mày vi tính. Ở lĩnh vực cơ khí, các doanh nghiệp quốc doanh có trình độ sản xuất cao hơn các thành phần kinh tế tư nhân, còn ở lĩnh vực sản xuất thực phẩm thì ngược lại, các doanh nghiệp tư nhân có đầu tư trang thiết bị hiện đại hơn. Một cuộc điều tra ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 cho thấy, có xí nghiệp chế biến thực phẩm không hề có một đầu tư kỹ thuật nào từ năm 1975 đến thời điểm điều tra. Các mặt hàng truyền thống của các doanh nghiệp còn ít. Các doanh nghiệp chưa chú trọng đến việc phát triển thương hiệu.

            Từ những đặc điểm đã nêu, cho thấy các ngành sản xuất hiện nay đang kỳ vọng vào ngành giáo dục đào tạo rất nhiều. Bởi vì:

            + Thông qua lao động được đào tạo để nâng cao trình độ lao động, trình độ quản lý của doanh nghiệp. Đây là cơ sở để doanh nghiệp tiếp nhận và nâng cao trình độ công nghệ của mình trong sản xuất kinh doanh.

            + Là kênh để tiếp nhận trực tiếp công nghệ sản xuất hiện đại.

            Cả hai kỳ vọng này đều hướng đến việc cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.        

  1. Đặc điểm các ngành đào tạo thuộc lĩnh vực cơ khí – công nghệ trong trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Các ngành đào tạo thuộc lĩnh vực cơ khí – công nghệ trong trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh là những ngành kỹ thuật cơ khí với 6 chuyên ngành đào tạo như sau:

+ Ngành Công thôn: Đây là ngành cơ khí nông nghiệp truyền thống. Ngành này trong nước chỉ có 3 nơi còn đào tạo là khoa Cơ Điện trường đại học Nông nghiệp I (Hà Nôi), khoa Cơ khí – Công nghệ trường đại học Nông Lâm Huế (Thừa Thiên - Huế), khoa Cơ khí – Công nghệ trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Điều đặc biệt là không có bất cứ một trường đại học dân lập nào đào tạo ngành này. Đây là ngành đào tạo các kỹ sư cơ khí phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Theo đó, người kỹ sư ra trường có thể thiết kế, chế tạo, vận hành sử dụng các loại máy móc, thiết bị dùng trong sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt. lâm nghiệp và thuỷ sản), sơ chế nông sản - thực phẩm hay quản lý doanh nghiệp, quản lý kỹ thuật thuộc về đối tượng này. Đứng trước nhu cầu của xã hội đang chuyển dần từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, thiếu cơ giới hoá đồng bộ sang xuất nông nghiệp hiện đại, với trình độ cơ giới hoá và tự động hoá cao thì đây là ngành có tác động mãnh liệt đối với sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả cao. Với hình ảnh hiện nay, chúng ta khó tìm thấy trên đồng ruộng Nam Bộ cảnh con trâu đi trước, cái cày theo sau, nhưng lại bắt đầu nhìn thấy không thiếu cảnh máy gặt đập liên hợp thu hoạch lúa ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, Tây Ninh,…, đã cho thấy bức tranh về nhu cầu cơ giới hoá nông nghiệp của nước ta. Trong quá trình cơ giới hoá, tự động hoá sản xuất nông nghiệp thì vai trò của người kỹ sư cơ khí nông nghiệp là hết sức cần thiết và không thể thiếu được. Trong mỗi sản phẩm cơ khí nông nghiệp dù được sản xuất trong nước hay nhập ngoại, khi hoạt động trên đồng ruộng đều thấy hình ảnh của họ.

Một điểm nổi bật của ngành đào tạo này, là khoa Cơ khí – Công nghệ trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh là nơi duy nhất của cả nước có đủ các hệ thống máy nông nghiệp phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học. So với các nước trong khu vực (Thái Lan, Philipin, …), thì đây là nơi có nhiều nhất các máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ngành có xưởng máy nông nghiệp với trên 100 máy nông nghiệp các loại, xưởng sử dụng máy với hàng chục loại máy kéo.

Đây cũng là ngành thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp nhiều nhất về số đề tài và số kinh phí. Ngành cơ khí nông nghiệp của trường đã tạo ra hàng ngàn sản phẩm khoa học phục vụ sản xuất. Tiêu biểu là cày không lật, cày 4 chảo phá lâm liên hợp với máy kéo MTZ – 892, máy trồng mía, máy chăm sóc mía, máy đập các loại, trang thiết bị phục vụ sản xuất chăn nuôi như máng ăn, máng uống, các kiểu chuồng chăn nuôi heo thịt, heo nái đẻ,…Trong số sản phẩm khoa học, có hai sản phẩm đạt giải 3 giải thưởng khoa học công nghệ VIFOTEX toàn quốc là Máy Trồng mía và Máy Cày sâu làm đất cho mía.

Đây là ngành đào tạo có sự liên thông từ cao đẳng, đại học, cao học và nghiên cứu sinh với các trình độ kỹ sư cao đẳng, kỹ sư cơ khí nông nghiệp, thạc sỹ kỹ thuật và tiến sỹ kỹ thuật.

+ Ngành Cơ khí bảo quản chế biến nông sản - thực phẩm. Đây là ngành duy nhất của cả nước đào tạo kỹ sư cơ khí phục vụ chế biến nông sản, thực phẩm. Ở các trường đại học khác thì đây mới chỉ là chuyên ngành. Khác với kỹ sư cơ khí nông nghiệp, địa bàn phục vụ là nông thôn và đối tượng tác động ở trên đồng ruộng thì địa bàn phục vụ chính của kỹ sư cơ khí bảo quản chế biến nông sản thực phẩm là các nhà máy, xí nghiệp nằm trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Họ có thể tham gia vào các dây chuyền sản xuất, chế biến nông sản, thực phẩm với chức trách là người vận hành thiết bị, công nghệ. Với nhiệm vụ thiết kế, chế tạo họ có thể tham gia ở các nhà máy sản xuất cơ khí, trung tâm hay viện nghiên cứu. Điểm đặc biệt là chương trình đào tạo bao gồm các quá trình sản xuất chế biến nông sản thực phẩm từ đầu vào đến đầu ra và kể cả quá trình xử lý chất thải. Các quá trình chế biến mà người học được đào tạo gồm các quá trình cơ học (làm sạch, phân loại nguyên liệu sản phẩm, làm nhỏ bằng cách thái hay nghiền, làm đều hỗn hợp và tạo hình bằng cách ép hay vo viên,…), các quá trình nhiệt (sấy khô, làm chin trong xử lý nguyên liệu và chế biến), các quá trình thuỷ lực (vận chuyển chất khí, chất lỏng, lọc, lắng bụi, lọc tách các chất lỏng,…). Các công nghệ và thiết bị được đào tạo gồm công nghệ và thiết bị sản xuất lúa gạo, công nghệ và thiết bị sản xuất đường mía, công nghệ và thiết bị sản xuất thức ăn gia súc, công nghệ và thiết bị sản xuất thức ăn thuỷ sản, công nghệ và thiết bị sản xuất tinh bột từ củ, công nghệ và thiết bị sản xuất dầu thực vật, công nghệ và thiết bị chế biến cá,…

Ngoài cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghề cơ khí, các môn kỹ thuật cơ sở như các ngành đào tạo cơ khí khác của cả nước thì cơ sở vật chất của ngành gồm: một xưởng Máy Sau thu hoạch - Chế biến với diện tích 300 m2 với các chủng loại máy như máy chế biến lúa gạo các loại; máy thái cỏ; máy thái củ; máy nghiền, máy trộn các loại; máy sấy các loại cùng với các thiết bị đo lường hiện đại như đo các thông số vật lý của không khí và nông sản như nhiệt độ, độ ẩm, khối lượng,…; thiết bị đo mô đuyn nghiền (đo độ nhỏ bột); đồng hồ đo số vòng quay;…

Ngành Cơ khí bảo quản chế biến nông sản thực phẩm của trường đại học Nông Lâm là ngành đầu tiên của khoa lấy kinh phí từ sản xuất phục vụ đào tạo. Nguồn kinh phí lấy từ sản xuất phục vụ các môn học Bảo dưỡng kỹ thuật máy, Máy gia công cơ học nông sản - thực phẩm, Máy và thiết bị phân riêng hệ không đồng nhất,… Đặc biệt là, các sinh viên thực hiện đề tài tốt nghiệp đã có nguồn kinh phí từ 10 ÷ 50 triệu đồng/đề tài lấy từ sản xuất. Nếu không có nguồn kinh phí từ sản xuất và nghiên cứu khoa học này thì tất cả các sinh viên làm luận văn tốt nghiệp của ngành theo kiểu làm “chay” đề tài. Chính tận dụng nguồn kinh phí từ sản xuất, nên chất lượng đào tạo của sinh viên được nâng cao, đề tài tốt nghiệp gắn liền với các vấn đề sản xuất đặt ra.

Đây cũng là một trong những ngành gắn kết tốt các nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất. Hình thức liên kết với sản xuất đầu tiên chính là gắn kết giữa bộ môn, ngành đào tạo với Trung tâm nghiên cứu khoa học thuộc chuyên ngành liên quan trong nhà trường. Ngành đã có quan hệ mật thiết với Trung tâm Năng lượng và Máy Nông nghiệp, Trung tâm Rau - quả của trường để phối hợp đào tạo, nghiên cứu khoa học, rèn nghề. Có nhiều giáo viên của ngành đào tạo kiêm nhiệm các chức vụ trong Trung tâm và ngược lại nhiều cán bộ nghiên cứu của Trung tâm là cán bộ giảng dạy.

Ngành cơ khí bảo quản chế biến nông sản - thực phẩm của trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh là ngành có nhiều công trình khoa học, sản phẩm khoa học nhất trong các trường đại học của cả nước phục vụ sản xuất. Các sản phẩm đã ứng dụng thành công vào sản xuất gồm: Hàng ngàn máy sấy nông sản các loại; hàng ngàn lò sấy thuốc lá; hàng trăm máy trộn hỗn hợp, hàng trăm máy nghiền sử dụng trong các ngành sản xuất công nghiệp, chế biến nông sản thực phẩm, xây dựng, dược phẩm, thuốc thú y,…; hàng chục máy thái cỏ; hàng chục dây chuyền sản xuất thức ăn gia súc, thức ăn thuỷ sản;…Trong số này đã có nhiều sản phẩm được xuất khẩu đi nước ngoài như máy sấy rất rẻ SRR (xuất khẩu đi 5 nước trong khu vực), máy nghiền MNKS – 500 (xuất khẩu sang Lào – là quà tặng của Thành phố Hồ Chí Minh cho nước bạn Lào), máy trộn thức ăn gia súc kiểu vít đứng MTVĐ – 200 (xuất khẩu sang Lào và Căm Pu Chia), máy trộn siêu đều MTSĐ – 100 (xuất khẩu sang Singapor để sản xuất men vi sinh). Đã có tới trên 60 % lượng sản phẩm bột trát tường (mattit trát tường hay bả trát tường) của cả nước là sản phẩm được sản xuất ra từ những hệ thống máy do thày và trò ngành cơ khí bảo quản chế biến nông sản thực phẩm sản xuất ra.

Đây cũng là ngành có nhiều giải thưởng khoa học nhất so với tất cả các ngành đào tạo khác của các trường đại học khác ở khu vực phía Nam và kể cả toàn quốc. Các sản phẩm khoa học được tặng các giải thường như sau: 2 giải ba (máy nghiền siêu mịn, máy sấy ) và một giải khuyến khích (lò sấy thuốc lá) giải thưởng khoa học công nghệ toàn quốc VIFOTEX l; 1 giải nhì (nâng cao hiệu quả máy nghiền hạt kiểu búa trục ngang), 1 giải ba (Nâng cao hệ thống sản xuất bột trát tường) giải thưởng khoa học kỹ thuật toàn quốc; 01 giải nhất (Công nghệ và thiết bị sản xuất thức ăn cho đại gia súc phục vụ nội tiêu và xuất khẩu) Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Bình Dương; 01 giải nhì (Nghiên cứu thiết kế, chế tạo, lắp đặt hệ thống sản xuất bột trát tường), 01 giải ba (máy sấy rất rẻ SRR), 02 giải khuyến khích (Máy nghiền siêu mịn bột đậu xanh, thiết kế, chế tạo, lắp đặt thiết bị vớt tách chất thải nổi ở các nhà máy sản xuất thực phẩm) Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Điểm nổi bật là trong 30 công trình khoa học tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh được tôn vinh nhân dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng thành phố (1975 - 2005) có 3 công trình khoa học của ngành cơ khí bảo quản chế biến nông sản thực phẩm là công trình xử lý nước thải ở các nhà máy thực phẩm, công trình máy nghiền siêu mịn và công trình máy sấy rất rẻ. Xét về khía cạnh gắn kết với sản xuất thì tất cả các sản phẩm khoa học dù có hay không đạt giải thưởng khoa học đều định hướng phục vụ sản xuất, đã và đang ứng dụng vào sản xuất một cách có hiệu quả.

Đây cũng là ngành duy nhất của trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang sở hữu 5 bằng độc quyền giải pháp hữi ích và 1 bằng độc quyền sáng chế.

Cùng với ngành Công thôn, ngành cơ khí bảo quản chế biến nông sản thưc phẩm hiện đã và đang chuẩn bị lực lượng cán bộ giảng dạy tiếp cận với trình độ khoa học công nghệ của thế giới để phục vụ công tác đào tạo hiện nay. Hiện ngành đã cử 2 giáo viên làm luận án tiến sĩ kỹ thuật, 2 giáo viên học cao học sẽ đều trở về nước vào năm 2009. Hiện nay ngành đào tạo này có số giáo viên có học vị và học hàm cao nhất trong khoa. Bao gồm 2 phó giáo sư, 2 tiến sĩ kỹ thuật. Các giáo viên đảm nhận các môn học chính đều có chức danh giảng viên chính. Với nhân sự như hiện nay, hứa hẹn một sự chuyển biến về chất lượng đào tạo của ngành.

+ Bốn ngành đào tạo còn lại của khoa Cơ khí – Công nghệ là Ngành Nhiệt lạnh, Ngành Tự động hoá, Ngành Cơ điện tử, Ngành Công nghệ ô tô đều là những ngành mới được mở. Trong số ngành này có ngành Nhiệt lạnh, Tự động hoá là những ngành sẽ có lớp ra trường đầu tiên trong năm nay (2008). Đây là những ngành có trang thiết bị đào tạo hiện đại thuộc vào bậc nhất trong nước. Với các phòng thí nghiệm hiện đại như Phòng thí nghiệm Cơ Điện tử, Phòng thực tập Tự động hoá, Xưởng thực tập Nhiệt Lạnh, Phòng thí nghiệm Nhiệt, Xưởng Nghiên cứu Công nghệ Ô tô  lạnh có các thiết bị thí nghiệm thế hệ mới nhất. Cơ sở vật chất của các ngành này đảm bảo thoả mãn nhu cầu đào tạo và trình độ sản xuất yêu cầu. Đây cũng là những ngành hiện có lực lượng cán bộ giảng dạy đang được đưa đi tu nghiệp ở nước ngoài nhiều nhất khoa. Trong đó có 6 giáo viên làm luận án tiến sỹ, 5 giáo viên học cao học. Lực lượng này sẽ trở về nước từ năm 2009 đến năm 2010. Với lực lượng giáo viên có trình độ cao, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo hiện đại sẽ hứa hẹn chất lượng đào tạo cao của trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.    

  1. Những nội dung để thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội

3.1.   Chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo đại học ngoài phần kiến thức giáo dục chung và khối kiến thức xã hội – nhân văn gồm 3 phần là kiến thức cơ bản, cơ sở và chuyên ngành.

Về phần kiến thức cơ bản được xây dựng theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tuy nhiên có thể thấy trong nội dung chương trình đào tạo và tất cả các giáo trình do Bộ tổ chức biên soạn hoàn toàn dựa theo hệ thống đào tạo phổ thông 10 năm trước đây. Nội dung đào tạo phần kiến thức này đã được giảng dạy ở chương trình phổ thông hệ 12 năm rất nhiều. Khối kiến thức cơ bản được đào tạo nhắc lại kiến thức phổ thông ở đại học tập trung nhiều ở các môn toán học, kế tiếp là hoá học và vật lý. Đây là những vấn đề cần phải giải quyết khi chuyển từ hệ thống đào tạo theo niên khoá sang hệ thống đào tạo tín chỉ. Đó là chưa kể, phần kiến thức cơ bản vẫn nặng theo cách học ở phổ thông là học “mẹo”giải bài hơn là bồi dưỡng kiến thức, tư duy. Việc học lại, làm mất đi phần thời gian vốn đã ít ỏi do rút ngắn thời gian đào tạo (từ 5 năm xuống còn 4 năm), lại không gây hứng thú cho người học. Có những phần kiến thức rất cần làm nền cho sinh viện khi học các môn kỹ thuật cơ sở và chuyên ngành, thì lại được học sơ sài hoặc không học. Đây cũng là phần kiến thức mà sinh viên thường có tỷ lệ thi lại hay nợ nhiều nhất.

Về phần kiến thức cơ sở cần phải giảm tải phần kiến thức hàn lâm mang tính tư duy lý thuyết để có thể bổ sung các kiến thức đã được số hoá. Vì kiến thức này cần thiết và giúp ích cho sản xuất hơn, người học tiếp cận dễ hơn, lượng thông tin đầy đủ và phong phú hơn. Thật phí thời gian khi phải giành vài giờ (thậm chí nhiều ngày, nhiều tháng) để giải một bài toán kỹ thuật, trong khi bằng các phần mền sẵn có thể giải quyết chỉ trong vài phút nạp dữ liệu và in kết quả. Với việc cải tổ chương trình (chứ không đơn giản chỉ là rút thời gian hay rút số tín chỉ đào tạo), theo hướng tiếp cận bằng công nghệ thông tin, các phần mền dạy học (gọi chính xác là giáo án điện tử),…là cơ sở tăng chất lượng đào tạo, gắn sản xuất với đào tạo nhiều hơn.

Về phần kiến thức chuyên môn: Đây là phần kiến thức do Bộ môn chủ quản hay Hội đồng khoa học do bộ môn thành lập. Rõ ràng một hội đồng chuyên ngành không nên có những ai “ngoại đạo”. Nếu có them, nên chăng chỉ là những người tuy không được đào tạo đúng chuyên ngành, nhưng có kiến thức “uyên thâm”, có óc tư duy hệ thống. Đây là một khó khăn lớn với những ngành mới đào tạo, cán bộ giảng dạy còn trẻ, chưa có kinh nghiệm trong quản lý, đào tạo hay nghiên cứu khoa học. Trong các trường hợp này cần mời các chuyên gia có uy tín trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và sản xuất để tư vấn xây dựng chương trình. Để tiếp cận tốt sản xuất, ngoài những môn mang tính “cúng”cho chuyên ngành thì số còn lại nên là các môn học tự chọn, để người học có thể tiếp cận tốt cơ sở sản xuất sau này. Không nhẽ, định hướng của người học sau tốt nghiệp ra trường công tác tại các nhà máy chế biến thức ăn gia súc bắt buộc phải học môn công nghệ và thiết bi sản xuất đường hay sản xuất dầu thực vật. Trong quá trình đào tạo phần kiến thức chuyên môn cần xem trọng khối kiến thức thực tập sản xuất, rèn nghề. Đồng thời cũng cần tránh hiện tượng xem nhẹ nội dung đào tạo ở ngoài sản xuất của cả Thày lẫn Trò, như xem thực tập sản xuất như đi tham quan du lịch, các công tác kiểm tra, viết báo cáo, thảo luận không tiến hành một cáh nghiêm chỉnh. Nếu như vậy, không những kiến thức chuyên môn không nắm được mà còn làm ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động sau này của người học.

Trong chương trình đào tạo, nhất thiết ở từng môn học nên có đầy đủ các giờ lên lớp lý thuyết, bài tập hay thảo luận. Ở các nội dung đào tạo thực hành, cần có những mục tiêu và yêu cầu cụ thể cần đạt được. Các báo cáo thực hành, thực tập là yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên. Còn công việc tự học, tự nghiên cứu cần được đặt dưới sự hướng dẫn và kiểm tra của thày. 

3.2.  Hình thức đào tạo

Theo mục tiêu đào tạo gắn với sản xuất, phục vụ nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì hình thức đào tạo theo niên chế hay kết hợp giữa niên chế và đào tín chỉ tỏ ra không còn phù hợp. Ở những hình thức đào tạo này, đào tạo mang tính “cứng” nhiều hơn. Đào tạo rất khó “xoay vần” theo sản xuất. Vì thực tế sản xuất có hàng ngàn, hang vạn các nghề, mà đào tạo thì số lượng có hạn. Có nhiều ngành nghề mà sản xuất có, trong khi chưa có đào tạo. Chuyển hình thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ, là cơ sở để ngành đào tạo “mềm hoá” chương trình đào tạo và tiếp cận nhanh với sản xuất.

3.3.  Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo

Cơ sở vật chất là viên gạch xây dựng kết quả đào tạo. Trong hoàn cảnh kính tế của Đất nước còn khó khăn, khả năng đầu tư của nhà nước bị hạn chế, thì mọi nguồn lực phục vụ cho công tác đào tạo đều rất quí. Nguồn kinh phí phục vụ đào tạo, góp phần tăng cường cơ sở vật chất, ở các dạng sau:

+ Nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước. Nguồn kinh phí này cũng rất đa dạng như: Được đầu tư theo kế hoạch dự án; ngân sách hàng năm; các đề tài, dự án khoa học. Trong đó nguồn kinh phí được đầu tư theo kế hoạch dự án tăng cường cơ sở vật chất cho đào tạo hay nghiên cứu khoa học thường lớn hơn cả. Tuy nhiên nguồn kinh phí này chỉ có được khi kế hoạch dự án được xây dựng nghiêm túc và được cấp trên xét duyệt.

+ Nguồn kinh phí từ các đề tài, dự án hợp tác quốc tế. Đây là nguồn kinh phí đáng kể. Thông qua các đề tài, dự án hợp tác quốc tế, chúng ta vừa nâng cao trình độ của cán bộ giảng dạy, vừa có điều kiện tiếp cận với công nghệ mới cũng như tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo. Chương trình GTZ của khoa Cơ khí – Công nghệ vào những năm 1990 là một minh chứng rõ nét.

+ Nguồn kinh phí từ việc chuyển giao công nghệ, các hợp đồng kinh tế. Nguồn kinh phí này rất lớn, nhưng không thể hiện được ở các khoản thu nhập. Bởi vì toàn bộ khoản kinh phí này đã biến thành vật tư phục vụ cho công tác rèn nghề, thực tập, làm đề tài tốt nghiệp.Những thiết bị do thày và trò tạo ra vừa trở thành trang thiết bị phục vụ đào tạo, vừa trở thành hàng hoá. Trở ngại lớn nhất ở nguồn kinh phí này là tính may rủi của sản phẩm. Nếu thành công thì không có gì phải nói, còn nếu thất bại thì trách nhiệm hoàn trả, đền bù cho sản xuất sẽ không còn là chuyện nhỏ. Vì vậy đòi hỏi người thày cả về mặt trình độ, uy tín khoa học, tính chịu trách nhiệm để triển khai khi có nguồn kinh phí này. Tuỳ theo ngành nghề mà nguồn kinh phí này rất lớn, có thể gấp nhiều lần các kinh phí do nhà nước đầu tư.

+ Sự hỗ trợ của các đơn vị sản xuất cho thày – trò tham quan, thực tập sản xuất, thực tập tốt nghiệp tại cơ sở. Đây là nguồn kinh phí rất lớn, mà nhà trường (nói rộng ra là nhà nước) không phải đầu tư, không phải khấu hao mà lại được tiếp cận trực tiếp với sản xuất. Tuy nhiên nguồn kinh phí này chỉ có thể có khi có sự hợp tác giữa nhà trường với đơn vị sản xuất, uy tín của người thày với cá nhân người lãnh đạo đơn vị hay với đơn vị. Đây chính là một trong những cầu nối không thể thiếu trong quá trình đào tạo. 

3.4.  Giải pháp về chính sách

Để có sự quan tâm sâu sắc của sản xuất đối với công tác đào tạo cần có những cơ chế, chính sách qui định cụ thể. Tuy nhiên các qui định này không thể ở dạng mệnh lệnh hành chính. Các chính sách cần thể hiện sự ưu tiên cho doanh nghiệp vì sự đóng góp phục vụ đào tạo. Các chính sách có thể là những ưu tiên về thuế, vốn vay, hỗ trợ công nghệ,…

Các ngành nghề của khoa Cơ khí – Công nghệ hiện đang có nhu cầu cao trong xã hội. Trên cánh đồng còn đang thiếu nhiều loại máy móc nông nghiệp cần thiết. Nông sản được sản xuất ra vẫn ở trong tình trạng xuất thô chưa qua chế biến đang rất cần công nghệ cùng các dây chuyền thiết bị để xử lý chế biến. Tổn thất sau thu hoạch ở nước ta vẫn còn cao. Vì vậy hai ngành cơ khí truyền thống vẫn đang rất cần cho xã hội. Ở ngành cơ khí bảo quản chế biến nông sản thực phẩm nên đặt tên theo đúng nội dung đào tạo của mình là ngành công nghệ và thiết bị sau thu hoạch thì vai trò phục vụ xã hội của ngành sẽ tăng cao hơn. Cùng với các ngành tự động hoá, nhiệt lạnh, cơ điện tử và công nghệ ô tô của khoa đang theo thời gian góp phần hiện đại hoá sản xuất, hướng tới quá trình sản xuất có hiệu quả, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường./.

 

Số lần xem trang : :3595
Nhập ngày : 25-03-2008
Điều chỉnh lần cuối :


In trang này

Lên đầu trang

  Những tham luận xoay quanh Đào tạo theo nhu cầu XH

  Đào tạo nhân lực & nhu cầu xã hội(10-04-2008)

  ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐẦU RA GẮN VỚI ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU XÃ HỘI(25-03-2008)

  NGHIÊN CỨU & CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ THEO NHU CẦU XÃ HỘI(25-03-2008)

  SỰ KẾT HỢP GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CÔNG TY, XÍ NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO(25-03-2008)

  HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐịA LÝ (GIS) VÀ CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM (RS) THẾ KỶ XXI(25-03-2008)

  KHOA CNTT ĐH NÔNG LÂM ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU XÃ HỘI(20-03-2008)

  GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG CHUYÊN NGÀNH Ở VIỆT NAM(20-03-2008)

  KHOA CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG CẢI TIẾN CHƯƠNG TRÌNH (20-03-2008)

  QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y, ĐẠI HỌC NÔNG LÂM (20-03-2008)

  ĐẶC ĐIỂM GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU THỊ TRƯỜNG(20-03-2008)

Trang kế tiếp ... Trang:

Trung Tâm Hỗ Trợ Sinh Viên & Quan Hệ Doanh Nghiệp
ĐC: Phòng 119 Nhà Phượng Vỹ - ĐH Nông Lâm TP.HCM
ĐT/Fax: 08-8974560 - Email: tthtsv_qhdn(a)hcmuaf.edu.vn
Website:http://www.nls.hcmuaf.edu.vn

Thiết kế: Quản trị mạng- ĐHNL 2007-2011